Bác Hồ và Esperanto

6/12/2011

 Là người thích học ngoại ngữ, từ khi tôi học Quốc tế ngữ (QTN) Esperanto và trở thành một nhà quốc tế ngữ, tham gia phong trào QTN, tôi vẫn thắc mắc: Bác Hồ của chúng ta là người chăm học ngoại ngữ để phục vụ công tác cách mạng, không hiểu Bác có biết QTN Esperanto không?

1
  Thắc mắc như vậy nhưng chẳng biết hỏi ai. Nhưng rồi một dịp may đã tình cờ đến với tôi. Chuyện xảy ra như sau:
    Ngày 5 tháng 8 năm 2004, trong một cuộc họp của chi hội cựu chiến binh, tôi đã báo cáo về Đại hội QTN toàn cầu lần thứ 89, diễn ra tại Bắc Kinh, Trung Quốc, từ ngày 22 đến 31 tháng 7 năm 2004, mà tôi đã
 tham dự. Sau khi nghe phần nói chuyện của tôi, đồng chí Nguyễn Phát Vĩnh  một  cựu chiến binh đã nói:   

Tôi được nghe nói về QTN Esperanto từ cách đây 35 năm, do chính Bác Hồ giới thiệu. Hồi đó, sau khi tốt nghiệp trường đại học Ngoại giao về nước, tôi được điều về phục vụ công tác đối ngoại tại một đơn vị Phòng không- Không quân, một quân chủng non trẻ của quân đội ta. Đơn vị  chúng tôi đóng ngay tại sân bay Đa Phúc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của chúng ta khi đó đang bước vào giai đoạn gay go, ác liệt nhất. Các chiến sĩ Phòng không-Không quân của ta ngày đêm canh gác bầu trời thủ đô Hà Nội. Ngay từ ngày 3 tháng 4 năm 1965, ngày xuất kích đầu tiên, các chiến sĩ lái máy bay MIG-17 của ta đã bắn rơi hai chiếc F8-U của Mỹ. Sau này ta còn được Liên Xô viện trợ cho các máy bay MIG-19, MIG-21 hiện đại hơn và cử các chuyên gia sang Việt Nam hướng dẫn các chiến sĩ ta về mặt kỹ thuật.

Ngày mồng một tết Kỷ Dậu, tức ngày 16 tháng 2 năm 1969, Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo quân chủng Phòng không-Không quân tới thăm và chúc Tết các chiến sĩ ta và các chuyên gia Liên Xô đang làm việc tại đơn vị chúng tôi. Vẫn trong bộ quần áo ka-ki giản dị, Bác vui vẻ bắt tay, chào hỏi mọi người. Thấy trên bàn bày hoa quả, bánh chưng, bánh tét, Người vui vẻ giới thiệu với các chuyên gia nước bạn: “ Ngày Tết ở Việt Nam, trên bàn thờ tổ tiên, trong bữa ăn đón mừng năm mới, thường có bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng là của đồng bào miền Bắc, còn bánh tét là của đồng bào miền Nam chúng tôi. Cả hai thứ đều làm từ gạo nếp, có nhân đậu xanh và thịt heo …”

Đồng chí phiên dịch viên lúng túng, không biết dịch ra tiếng Nga ra sao các từ “bánh chưng”, “bánh tét”, thì Bác nói ngay: “ Cháu cứ dịch là pirốc ( tiếng Nga là bánh) chưng, pirốc tét. Các tên bánh đó dịch ra tiếng dân tộc nào cũng để nguyên. Kể cả dịch ra Quốc tế ngữ Esperanto cũng vậy.” Rồi Bác hỏi: “ Các chú có biết QTN Esperanto là thứ tiếng gì không? Đó là thứ tiếng quốc tế. Người dân mỗi nước chỉ cần học thêm thứ tiếng chung đó là có thể giao tiếp với nhau, có thể hiểu nhau. Tiếng QTN Esperanto dễ học hơn các tiếng dân tộc như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga rất nhiều.”

    Câu chuyện của đồng chí Nguyễn Phát Vĩnh làm tôi thêm tin tưởng là Bác Hồ là người biết QTN Esperanto, hiểu rõ vai trò của nó. Chính vì vậy, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự chỉ đạo của Bác, từ ngày 7 tháng 9 năm 1945, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đã bắt đầu truyền tin đi khắp thế giới bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Hoa. Và từ giữa tháng 9 năm 1945, hàng ngày, sáng từ 11 giờ tới 11 giờ 30, tối từ 20 giờ đến 20 giờ 30 đài còn phát tin bằng QTN Esperanto. Các buổi phát thanh bằng QTN Esperanto được phát đều đặn cho tới ngày toàn quốc kháng chiến, 19 tháng 12 năm 1946, mới chấm dứt. Như vậy Việt Nam là nước Châu Á đầu tiên dùng  QTN Esperanto làm phương tiện truyền thông đại chúng. Chính Bác và Trung  ương Đảng đã nhiệt liệt ủng hộ ý tưởng và cho thành lập Hội Quốc tế ngữ Bảo vệ hòa bình Việt Nam vào ngày 9 tháng 12 năm 1956. Vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, do hiểu biết và tin tưởng vào khả năng của QTN Esperanto, nên sau khi được nhà thơ Tố Hữu xin ý kiến, Bác đã đồng ý để nhà thơ Đào Anh Kha, nhà QTN nổi tiếng của nước ta, dịch tập thơ “ Nhật ký trong tù” của Người sang QTN Esperanto .

    Để  tiếp tục tìm hiểu thêm về câu chuyện Bác Hồ với Esperanto, tôi hỏi thêm đồng chí Nguyễn Phát Vĩnh: Ngoài anh ra, hôm đó còn  ai được nghe Bác Hồ nói về QTN Esperanto ?

    - Nhiều người lắm – đồng chí Vĩnh trả lời  -  Tôi nhớ, trong buổi gặp Bác hôm đó có cả Trần Hanh, Phan Thanh Ngân… Họ là những chiến sĩ lái máy bay anh hùng và hiện nay đều là cán bộ cao cấp của Đảng và Quân đội ta.
Tôi bỗng nhớ thêm một chuyện khác: Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh, một  trong  những  người  sáng lập ra  Hội QTN Bảo vệ Hòa bình Việt Nam, chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội, có lần đã kể lại với nhà QTN Hoàng Ngọc Bội  là Bác Hồ từng khen “QTN Esperanto nghe rất êm tai (chữ“êm tai” tạm dịch  từ tiếng Esperanto là “ belsona” ) .”
                          2
Tôi rất thú vị với những thông tin mà đồng chí Nguyễn Phát Vĩnh cung cấp cho tôi. Như vậy Bác Hồ biết về ngôn ngữ Esperanto. Nhưng Bác có học, có dùng Esperanto hay không, lại là chuyện khác, cần tìm hiểu thêm. Tôi nghĩ ngay tới việc viết thư hỏi đồng chí Vũ Kỳ, người thư ký gần gũi của Bác suốt mấy chục năm, từ năm 1945 tới 1969. Toàn văn lá thư như sau:
    Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 năm 2004   
        Kính gửi Anh Vũ Kỳ,
    Thấy báo chí đưa tin Anh độ này sức khỏe kém, thỉnh thoảng phải vào bệnh viện 108 chữa chạy, tôi viết mấy dòng thăm sức khỏe của Anh, kính chúc Anh sớm khỏi bệnh và còn sống nhiều, nhiều năm với con cháu nữa!
    Chẳng hiểu Anh còn nhớ tôi không? Tôi là Trần Quân Ngọc, trước đây công tác tại Văn phòng Chính phủ, từng là thư ký cho đồng chí Thủ tướng. Ngày Anh còn phụ trách Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, khi xây dựng bảo tàng mới sau Lăng Bác, anh em ta vẫn thường gặp nhau trao đổi công việc. Hiện nay tôi đã về hưu, cùng gia đình chuyển vào Nam sinh sống.  Về hưu, tôi tham gia hoạt động trong Hội QTN Esperanto, vì trước đây, hồi lưu học ở Liên Xô, tôi có học thêm Esperanto và tham gia hoạt động trong Hội QTN Liên Xô một thời gian. Anh em trong Hội và bạn bè quốc tế thường hỏi: Bác Hồ có biết Esperanto không? Khi Bác hoạt động ở Liên Xô trong giai đoạn 1923-1924 và 1933-1938, phong trào QTN Esperanto ở bên đó phát triển mạnh. Bác Hồ theo chủ nghĩa quốc tế, là người biết nhiều ngoại ngữ, luôn trau dồi ngoại ngữ để phục vụ công tác cách mạng, chắc Bác phải học và biết Esperanto?
    Tôi nghĩ chỉ có Anh mới thể trả lời được câu hỏi này. Mong Anh bớt chút thời gian cho chúng tôi được biết tin. Nếu Anh bận hoặc mệt thì xin Anh chỉ cần viết mấy dòng vắn tắt.
    Kính chúc Anh và gia đình mạnh giỏi, hạnh phúc. Có dịp ra Hà Nội, thể nào tôi cũng tới thăm Anh.
                                 Quý mến,
                        Trần Quân Ngọc
   
Tôi nhờ đồng chí Vũ Quốc Hùng, tới giao tận tay lá thư cho ông Vũ Kỳ, lúc đó đang điều trị tại bệnh viện 108. Đồng chí Vũ Quốc Hùng đã sốt sắng hứa giúp tôi việc này. Mấy ngày sau, đồng chí Vũ Quốc Hùng gọi điện thoại từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh cho tôi, kể rằng đã vào bệnh viện 108 thăm ông Vũ Kỳ, giao tận tay lá thư của tôi cho ông, nhưng sức khỏe của ông lúc này đã kém lắm. Ông bảo người con đọc cho ông nghe lá thư. Nghe xong ông nói thều thào: “ Nếu tôi bình phục, tôi sẽ tự tay biên thư trả lời anh Ngọc. Bằng không, nói anh Ngọc tới gặp nhà văn Sơn Tùng. Anh Sơn Tùng sẽ kể cho anh Ngọc những điều có liên quan tới câu chuyện anh Ngọc hỏi.”

    Ít lâu sau, vào ngày 16 tháng 4 năm 2005, ông Vũ Kỳ, người thư ký tận tụy và trung thành của Bác Hồ đã lặng lẽ ra đi, về cõi Bác Hồ. Tôi bị hụt hẫng và đau buồn, tự trách sao không hỏi ông Vũ Kỳ sớm hơn! Dù sao, những điều ông Vũ Kỳ dặn lại là rất quan trọng. Tôi nhất định phải gặp nhà văn Sơn Tùng để tìm hiểu thêm câu chuyện, theo như lời ông Vũ Kỳ đã trăng trối.

3

nhà văn Sơn Tùng


Tối ngày 3 tháng 7 năm 2006, trong một dịp vội vã ghé qua Hà Nội, tôi tới thăm nhà văn Sơn Tùng tại ngõ Văn Chương. Gặp lại nhau sau thời gian dài xa cách, cả hai chúng tôi đều mừng rỡ và xúc động. Cách đây hơn hai mươi năm, nhà văn Đức Lân lần đầu tiên đưa tôi tới đây gặp anh Sơn Tùng. Cũng chính tại căn phòng nhỏ bé chừng bốn mét vuông này, mà nhà văn Sơn Tùng đặt cho nó cái tên rất đẹp “ Chiếu văn”, hôm đó chúng tôi còn gặp các nhạc sĩ- thi sĩ Văn Cao và Đặng Đình Hưng ( cha của nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn ). Mặc dù không biết uống rượu, nhưng anh Đức Lân và tôi cùng vị chủ nhà mến khách đã ngồi hầu rượu rất lâu các nghệ sĩ tài danh của Hà Nội. Dĩ nhiên ngày ấy trong buổi nhậu chỉ có rượu đế  và đĩa lạc rang chưa bóc vỏ. Sau khi bùi ngùi nhắc lại những kỷ niệm ấm lòng của những ngày chưa xa, những người bạn chung người còn, người mất, tôi kể lại với nhà văn Sơn Tùng về lá thư tôi gửi ông Vũ Kỳ và những lời nhắn gửi của ông Vũ Kỳ đối với tôi trước khi về với Bác Hồ ở cõi vĩnh hằng. Nhà văn Sơn Tùng đã kể lại cho tôi một số mẩu chuyện sau đây:

      Cụ Vũ Đình Huỳnh, một nhà cách mạng lão thành, trong những năm đầu cách mạng, từng là bí thư của Bác Hồ, từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Pháp năm 1946 với danh nghĩa Đại tá cận vệ của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có lần kể lại câu chuyện sau đây. Sau chiến thắng lẫy lừng của quân và dân ta tại Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 7 năm 1954 bọn thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ –ne- vơ lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương. Theo những điều khoản của Hiệp định này, một Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định, gồm đại diện của ba nước là Ấn Độ ( Chủ tịch ), Canada ( ủy viên ), Ba Lan (ủy viên ) được cử tới Việt Nam. Hà Nội lúc đó đang còn nằm trong vòng kiểm soát của quân đội Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp các vị đại diện của phái đoàn tại một địa điểm ở Thái Nguyên. Người dùng tiếng Anh, tiếng Pháp để nói chuyện với các vị đại sứ và các sĩ quan của phái đoàn. Sau khi tiếp quản thủ đô Hà Nội ( ngày 10 tháng 10 năm 1954 ), chính phủ kháng chiến đã chuyển từ chiến khu Việt Bắc về thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tiếp các vị đại diện ba nước thành viên của Phái đoàn kiểm soát và giám sát quốc tế một lần nữa tại Phủ Chủ tịch ( mà trước đó gọi là Phủ Toàn quyền của Pháp tại Đông Dương ). Trong buổi tiếp, Người quay về phía đại diện của Ba Lan, hỏi: “ Ở đây có đại diện của Ba Lan, quê hương của Zamenhof, người sáng lập ra quốc tế ngữ Esperanto. Vậy có ai trong quí vị dùng được Esperanto?” Có hai sĩ quan Ba Lan trả lời là biết Esperanto. Bác Hồ rất vui và nói: “ Vậy từ nay chúng ta có thể dùng Quốc tế ngữ Esperanto để giao tiếp với nhau, tôi không phải dùng tiếng Pháp để nói chuyện với các  bạn nữa!” Lúc đó mọi nguời mới biết là, ngoài các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga, Hoa  … Bác Hồ còn biết cả Quốc tế ngữ Esperanto nữa!
    Thông tin này đối với những nhà quốc tế ngữ Việt Nam và quốc tế thật vô cùng quý giá.
    Tôi hỏi thêm nhà văn Sơn Tùng:
    - Chắc Bác Hồ học QTN Esperanto trong thời gian ở Liên Xô ? Bác sang Liên xô lần đầu vào giữa năm 1923, rời Liên xô tới Quảng Châu hoạt động vào cuối năm 1924. Lần thứ hai Bác ở Liên Xô lâu hơn: từ năm 1933-1938. Khi còn học tập và hoạt động trong phong trào QTN Esperanto ở Liên xô, các nhà quốc tế ngữ lão thành của nước bạn cho tôi biết, là vào những năm hai mươi và ba mươi của thế kỷ trước, phong trào QTN ở đây phát triển khá  mạnh. Chính Lênin  từng đánh  giá  rất cao vai trò  QTN Esperanto.
Người nói: “ QTN Esperanto là tiếng La tinh của giai cấp công nhân thế giới, và tôi hy vọng rằng, nhờ sự dễ dàng của nó, ngôn ngữ này sẽ giúp cho nhân dân thế giới hiểu biết lẫn nhau.”
Nhà văn Sơn Tùng chậm rãi kể lại với tôi câu chuyện sau đây để trả lời câu hỏi của tôi:
    Năm 1977, hai năm sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với cụ Đào Nhật Vinh  , từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm Hà Nội. Cụ đã quen biết Bác Hồ từ những năm Người còn là anh thủy thủ Văn Ba, làm công trên tầu thủy của Pháp. Trong những năm sống lênh đênh ở xứ người, anh thủy thủ trẻ tuổi Đào Nhật Vinh đã nhiều lần gặp anh thủy thủ Văn Ba, khi thì ở Đác-ca, thủ đô của Xê-nê-gan , lúc thì ở Paris, thủ đô nước Pháp. Là một thanh niên tháo vát, tốt bụng , kém anh Văn Ba 7 tuổi, nên Đào Nhật Vinh được Văn Ba coi như em. Chính anh Văn Ba đã dạy cho Đào Nhật Vinh chữ quốc ngữ và truyền cho anh cái nghề làm bánh kem vani mà anh học được của ông vua bếp nổi tiếng thế giới Excôphiê (Auguste Escoffier). Cũng chính anh Văn Ba đã giác ngộ và đưa Đào Nhật Vinh vào Hội những người Việt Nam yêu nước, hoạt động trong nhóm thủy thủ. Những năm sau này Đào Nhật Vinh đã được nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ bí mật chuyển sách báo, tài liệu cách mạng (như Le Paria, báo Việt Nam Hồn…) về Việt Nam và tới các nước thuộc địa của Pháp. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh  sang thăm chính thức nước Pháp, ông Đào Nhật Vinh cũng được anh em thủy thủ và bà con Việt Kiều ở Pháp cử vào nhóm phục vụ Bác và phái đoàn của ta. Cụ Đào Nhật Vinh cho chúng tôi biết, là trong thời gian anh Văn Ba sống tại Luân Đôn, nước Anh, từ năm 1914 đến 1917, ngoài những công việc làm hàng ngày để kiếm sống như quét tuyết, đốt lò, làm bếp…anh học tiếng Anh, học Quốc tế ngữ Esperanto và hoạt động trong Hội những người lao động hải ngoại và trong tổ chức hướng đạo sinh (tiếng Anh là Scout ) của nước Anh. Những kỷ vật và thư từ mà cụ Đào Nhật Vinh tặng và gửi cho tôi có liên quan tới sự hoạt động của Bác tại tổ chức hướng đạo sinh nước Anh, tôi đã gửi biếu cụ Hoàng Đạo Thúy, trước Cách mạng tháng Tám 1945 từng là huynh trưởng Hội hướng đạo sinh miền Bắc, sau này trở thành nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của nước ta. Thời ấy, ngoài tiếng mẹ đẻ, các hướng đạo sinh của Anh còn thích dùng QTN Esperanto trong các buổi sinh hoạt của họ.
                          4
Như vậy qua những câu chuyện kể của nhiều nhân chứng ở những thời điểm khác nhau, chúng ta có thể khẳng định rằng: Bác Hồ của chúng ta từng học Quốc tế ngữ Esperanto từ rất sớm, từng dùng ngôn ngữ này để giao tiếp, từng góp phần vào việc giới thiệu QTN Esperanto, giúp phong trào QTN phát triển. Điều này thật có ý nghĩa đối với phong trào QTN nước ta, đối với những nhà QTN Việt Nam, những người đang náo nức chuẩn bị cho ngày lễ lớn của họ vào cuối năm 2006: Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội QTN Esperanto Việt Nam, một thành viên tích cực của Hội QTN Esperanto thế giới.


                   TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 7 năm 2006
                      Trần Quân Ngọc
    Phó Chủ tịch Hội QTN Esperanto Việt Nam,
    Phó Chủ tịch Ủy ban Phong trào QTN Châu Á của Hội QTN Thế giới



 1. Đồng chí Nguyễn Phát Vĩnh, nguyên sĩ quan binh chủng Phòng không-Không quân, hiện đã nghỉ hưu, ngụ tại 35/9B đường Trần Đình Xu, Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đọc bài viết của nhà thơ, viện sĩ Đào Anh Kha “Nhà thơ Tố Hữu với Esperanto”, in trong sách “45 năm sao sáng”, trang 39 do Hội QTN VN xuất bản năm 2001.

3. Hoàng Ngọc Bội, kỹ sư điện, hiện công tác tại xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt Xô tại Vũng Tàu, nhà quốc tế ngữ xuất sắc của Việt Nam hiện nay.

4. Đồng chí Vũ Quốc Hùng, nguyên Ủy viên Trung Ương Đảng, Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung Ương ĐCSVN các khóa 8, 9.

5. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7, năm 1935, Bác Hồ lấy bí danh là Lin. Trả lời câu hỏi: “ Biết những ngôn ngữ nào? “Người viết: “ Tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Việt( trong nguyên bản là tiếng Đông Dương.)”

6. Cụ Đào Nhật Vinh (1897-198…), quê ở Nam Định, từng nhiều năm làm thủy thủ trên các tàu buôn của Pháp, đã đi qua 175 thành phố của cả năm lục địa. Những năm cuối đời định cư tại nhà số 23 đường Nguyễn An Ninh, TP. Hồ Chí Minh.
 

Liên quan
Tiếng Việt - Esperanto

  

Thông tin thời tiết